Công khai thông tin người nộp thuế vi phạm là một biện pháp răn đe mạnh mẽ, tăng sức ép xã hội và uy tín kinh doanh đối với các doanh nghiệp chây ì; Giúp minh bạch hóa môi trường kinh doanh… Giải pháp này cần đi kèm với các cải cách thủ tục, hỗ trợ tuân thủ và chế tài tài chính để đạt hiệu quả cao nhất.
Mới đây, Cục Thuế ban hành Công văn 5322 chỉ đạo các đơn vị trong toàn ngành Thuế về việc chỉ đạo công khai thông tin người nộp thuế trạng thái 03-06. Mục tiêu hướng đến việc triển khai Chiến dịch "Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh". Bà Lê Thị Hồng Giang, Công chức phòng Nghiệp vụ, dự toán, pháp chế - Thuế TPHCM cho biết “Việc công khai thông tin người nộp thuế được quy định tại điều 4 -Nghị định 252. Các đối tượng chịu sự công khai thông tin, là người có nợ thuế quá hạn 90 ngày, có hành vi trốn thuế chây ì không nộp tiền thuế, không chấp hành các yêu cầu của cơ quan thuế và có những hành vi cố tình gây cản trở các công chức thực thi nhiệm vụ; là các tổ chức cá nhân, hộ kinh doanh không hoạt động tại địa chỉ đã thăng ký kinh doanh. Lưu ý đặc biệt, đối với các doanh nghiệp không hoạt động kinh doanh tại địa chỉ đăng ký thì, tên người đại diện pháp luật và 4 số cuối của căn cước công dân cũng sẽ bị công khai”.
Một trong những chế tài mang tính răng đe đó là việc tạm hoãn xuất cảnh đối với cá nhân, người đại diện doanh nghiệp không chấp hành đúng quy định. Cho biết cụ thể quy định, bà Lê Thị Hồng Giang, Công chức phòng Nghiệp vụ, dự toán, pháp chế - Thuế TPHCM chỉ rõ, “Theo quy định tại Điều 28 - Nghị định 252, để áp dụng biện pháp tạm hoạn xuất cảnh, cơ quan thuế đã phải thông báo trước 30 ngày kể từ ngày ra quy định tạm hoạn xuất cảnh và có thông báo trên cổng thông tin điện tử của cơ quan thuế, đồng thời gửi mail cho người nộp thuế. Chế tài này áp dụng đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh có ngưỡng nợ trên 50 triệu đồng và quá hạn từ 120 ngày trở lên; Đối với hợp tác xã thì có nợ thuế từ 500 triệu đồng trở lên và quá hạn từ 120 ngày… thì đại diện chủ sở hữu, người đại diện pháp luật kể cả chủ sở hữu hưởng lợi thì cũng sẽ bị tạm hoãn xuất cảnh”.
Điểm mới về hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh theo Nghị định 252 đó là, có thể hủy ngay lập tức. Điều này có nghĩa, ngay khi người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ hoặc phần nợ giảm dưới ngưỡng quy định, cơ quan thuế tự động phát thông báo hủy bỏ lệnh cấm xuất cảnh trên hệ thống.
Cùng với chế tài nghiêm khắc, Nghị định 252 cũng có những quy định chế độ ưu tiên đối với những trường hợp chấp hành tốt quy định pháp luật về thuế. “Tại điều 48 của Nghị định 252 có một điều rất mới đó là, chế độ ưu tiên cho người nộp thuế có tuân thủ tốt. Và người nộp thuế tuân thủ tốt khi, được xếp hạng ở mức tuân thủ tốt; chấp hành đúng các quy định pháp luật; có rủi ro thấp trong vòng 2 năm liên tục và có hệ thống dữ liệu, kế toán, hóa đơn điện tử kết nối với hệ thống liên thông quản lý thuế của cơ quan thuế; có cơ chế kiểm soát nội bộ tốt… sẽ được hưởng các đặc quyền là: được ưu tiên giải quyết các thủ tục tự động; giảm bớt các trung gian về phê duyệt; rút ngắn thời gian làm các thủ tục hoàn thuế, miễn giảm thuế và một số thủ tục khác… Và ngay cả vấn đề về kiểm tra cũng chỉ giám sát từ xa, không có kiểm tra tại chủ sở” - Bà Lê Thị Hồng Giang, Công chức phòng Nghiệp vụ, dự toán, pháp chế - Thuế TPHCM cho biết thêm.
Khẳng định vai trò đồng hành, hỗ trợ, tạo điều kiện tốt nhất để doanh nghiệp thực thi pháp luật và phát triển kinh doanh, ông Giang Văn Hiển, phó trưởng Thuế TPHCM nhấn mạnh, “Cơ quan thuế sẽ rà soát để sắp xếp các bộ phận để chuyên nghiệp hơn, dành nhiều thời gian chăm sóc doanh nghiệp tốt hơn. Điển hình, hiện nay ngành Thuế đã có Call center - hỗ trợ các dịch vụ khai thuế điện tử, hóa đơn điện tử và chính sách pháp luật thuế thông qua điện thoại và thư điện tử. Cùng với đó, Thuế TPHCM cũng thành lập riêng bộ phận, sẵng sàng đồng bộ ngay chính sách mới chuyển đến doanh nghiệp giúp doanh nghiệp tiếp cận kịp thời, góp phần thực hiện tốt các chính sách thuế, yên tâm đầu tư phát triển, kinh doanh bền vững”.
Cục Thuế cũng yêu cầu, việc công khai thông tin cũng như gỡ bỏ công khai phải đúng thẩm quyền, đúng trường hợp, đúng mục đích quản lý thuế và bảo đảm không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người nộp thuế, tổ chức, cá nhân có liên quan.




