Nhằm giải bài toán xác định giá trị cốt lõi và chuyển đổi từ năng lực gia công thuần túy sang năng lực cạnh tranh giá trị cao cho ngành in Việt Nam, các chuyên gia và doanh nghiệp đã cùng thảo luận tại hội thảo "Ngành in Việt Nam - Từ năng lực gia công đến năng lực tạo ra giá trị".
Ông Ngô Anh Tuấn, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội in Việt Nam cho hay, trước đây lợi thế lớn nhất của ngành in không xuất phát từ nội lực, mà đến từ các yếu tố địa chính trị, các hiệp định song phương, lợi thế địa lý gần Trung Quốc và nguồn lao động gia công giá rẻ. Những điều kiện này từng giúp Việt Nam tiếp nhận, sản xuất và gia công khối lượng hàng hóa cùng ấn phẩm xuất khẩu rất lớn cho thị trường toàn cầu. Tuy nhiên, các lợi thế dựa vào gia công giá rẻ hay cơ sở vật chất sẵn có giờ đây đang dần trở nên lỗi thời. Trong bối cảnh dân số Việt Nam đang già hóa và các ưu thế cũ mất đi, ngành in bắt buộc phải thay đổi góc nhìn chiến lược, ngành cần tập trung sáng tạo ra những giá trị bền vững và trường tồn hơn cho tương lai.
Ông Ngô Anh Tuấn nhấn mạnh: “Sản phẩm in chỉ là một phương tiện, còn giá trị là kết quả mà khách hàng họ nhận được, kết quả họ phải nhận được. Như vậy thì cái giá của chúng ta báo không chỉ đơn giản chỉ là cái giá của cái sản phẩm in, mà cái giá của tổng thể nhiều yếu tố. Nếu mà chúng ta cạnh tranh bằng giá, mà ở Việt Nam ta nói về giá thì có nhiều yếu tố chúng ta phải xem lại. Từ chi phí tạo ra sản phẩm, họ mới ra giá của sản phẩm, từ giá của sản phẩm mới ra gía báo cho khách hàng, 3 khái niệm này hoàn toàn khác nhau. Và Hiệp hội In Việt Nam sẽ đặt lại khái niệm này trong giáo trình sắp tới mà chúng tôi phát hành.”
Theo bà Công Thị Minh Sơn, Trưởng phòng Quản lý In và Xuất bản (Cục Xuất bản, In và Phát hành), để nâng cao giá trị cho ngành in Việt Nam, việc chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và ứng dụng AI cần triển khai đồng bộ thành một hệ thống thống nhất nhằm tối ưu nhân lực, quản trị và đưa ra quyết định chính xác. Trong đó, chuyển đổi xanh không phải là chi phí tuân thủ đắt đỏ hay tiêu chuẩn xa xôi, mà chính là bài toán tối ưu hóa hiệu quả sản xuất. Doanh nghiệp nên bắt đầu bằng việc giảm lãng phí thực tế như nguyên vật liệu, điện nước hay thời gian máy dừng, bởi mỗi sản phẩm lỗi đều gây tổn thất về tài nguyên, lao động và chi phí. Việc giảm chi phí vận hành chính là điểm giao thoa giữa hiệu quả kinh tế và chuyển đổi xanh, giúp doanh nghiệp tạo ra giá trị thiết thực ngay từ khâu thiết kế và chuẩn bị quy trình.
Bà Công Thị Minh Sơn bày tỏ: “Năng lực gia công tốt là nền móng quan trọng của ngành in Việt Nam, chúng ta không đi từ gia công tạo giá trị bằng cách bỏ qua năng lực sản xuất, mà chúng ta phải đặt thêm những tầng giá trị mới trên nền năng lực sản xuất đã có, như là dữ liệu, tri thức, thiết kế, vật liệu đổi mới, quá trình quản trị hay là phát triển bền vững. Trong quá trình đó thì chuyển đổi xanh sẽ giúp tạo ra nhiều giá trị hơn với ít tài nguyên hơn; chuyển đổi số thì giúp nhìn thấy, đo lường và quản trị được quá trình tạo giá trị; và AI sẽ giúp khai thác dữ liệu để dự báo, tối ưu và từng bước tạo ra những năng lực mới.”
Bà Nguyễn Mai Minh Thư, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Bao bì Mai Thư, khẳng định ngành in Việt Nam cần chuyển dịch mạnh mẽ từ thuần gia công sang phát triển tạo giá trị. Khi xuất khẩu, sản phẩm không chỉ đại diện cho một doanh nghiệp riêng lẻ mà còn mang thương hiệu quốc gia, bởi khách hàng chỉ mất vài giây nhìn sự bắt mắt của bao bì và kiểm tra xuất xứ để quyết định mua hàng. Dù là khâu hoàn thiện cuối cùng, in ấn lại là điểm chạm đầu tiên với người tiêu dùng, giữ vai trò trực tiếp truyền tải thông điệp và văn hóa Việt. Trong kỷ nguyên số, ngành in đã vượt khỏi vai trò truyền thông truyền thống để hiện diện khắp mọi lĩnh vực đời sống, từ bao bì cà phê đến vỏ bánh hàng ngày. Do đó, chú trọng vào thiết kế và in ấn bao bì chính là chìa khóa then chốt để định hình ấn tượng và nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm Việt.
Bà Nguyễn Mai Minh Thư mong muốn: “Chính quyền quan tâm, xem xét ngành in là ngành nền tảng, chiến lược và đưa ngành in vào ngành thiết yếu cho đời sống. Giá trị mang lại rất lớn nếu nhìn thấy tất cả thương hiệu thành công hay không hầu như đều từ ngành in. Cũng mong tháo gỡ những điểm nghẽn: đầu tư chuyển đổi thiết bị số, hỗ trợ các gói tín dụng, nâng cấp giảng dạy đào tạo, thì cũng giúp đào tạo các trường in. Mở rộng thị trường: mong Chính phủ mình cũng có chính sách hỗ trợ lớn, vì nếu cứ quanh quẩn hội chợ ở các nước láng giềng thì khó cất cánh. Mong Việt Nam có những gian hàng lớn ở các tổ chức để các doanh nghiệp Việt Nam được cọ xát, tiếp cận, tiếp xúc với các bên mua ở đó, từ đó nâng cao vị thế của mình."
Ông Nguyễn Nguyên, Cục trưởng Cục Xuất bản, In và Phát hành (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), nhấn mạnh ngành in Việt Nam đang đối mặt với nhiều cơ hội mới nhưng cũng chịu áp lực thay đổi rất nhanh từ thị trường. Khách hàng ngày nay không chỉ đòi hỏi chất lượng cao và giá thành cạnh tranh, mà còn cần sự ổn định, tiến độ nhanh chóng, tinh thần đổi mới, tuân thủ các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường và trên hết là sự tin cậy. Để biến nỗ lực riêng lẻ của từng doanh nghiệp thành sức mạnh chung cho toàn ngành, vai trò định hướng và kết nối giữa Nhà nước, hiệp hội cùng doanh nghiệp là vô cùng quan trọng. Sự phối hợp này cần tập trung vào ba bước then chốt: xây dựng cơ sở dữ liệu ngành đầy đủ làm nền tảng cho các quyết sách chính xác; hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách đồng bộ; và chủ động nắm bắt để tối ưu hóa các thời cơ phát triển khi đã có nền tảng dữ liệu cùng thể chế vững vàng.
“Tôi rất mong thời gian tới, TPHCM xác định ngành in là ngành bổ trợ, không chỉ dừng lại ở trong câu chuyện xác định, không chỉ dừng lại ở một vài cơ chế chính sách liên quan đến vấn đề tín dụng, mà sẽ được mở rộng hơn trên cơ sở là khẳng định rõ vị trí, vai trò của ngành in đóng góp chung vào sự phát triển của thành phố cũng như là đóng góp vào sự phát triển kinh tế mà chúng ta đang hướng tới mục tiêu hai chữ số.”, ông Nguyễn Nguyên bày tỏ.
Ngành in Việt Nam hiện nay không chỉ cạnh tranh bằng giá rẻ, máy móc hay năng lực sản xuất đơn thuần, mà giá trị cốt lõi nằm ở chất lượng, công nghệ, yếu tố con người, dịch vụ, khả năng đổi mới, trách nhiệm môi trường và uy tín thương hiệu. Dù các doanh nghiệp có thể tự đầu tư, chủ động chuyển mình và tự tìm kiếm cơ hội trên thị trường quốc tế, nhưng muốn nâng tầm vị thế chung cho toàn ngành thì bắt buộc phải có sự hợp lực toàn diện. Sự liên kết này cần diễn ra mạnh mẽ giữa các doanh nghiệp với nhau, giữa doanh nghiệp với hiệp hội, giữa ngành in với chuỗi cung ứng toàn cầu, cũng như sự đồng hành từ phía cơ quan quản lý nhà nước để tạo nên một môi trường phát triển thuận lợi. Tất cả cùng hướng tới thông điệp then chốt: "Từ gia công - Tạo giá trị - Hợp lực - Nâng cao vị thế ngành in Việt Nam".

