Tiến tới loại trừ sốt rét vào năm 2030, phải đồng thời với việc xây dựng đủ năng lực để không để bệnh quay trở lại. Đó là yêu cầu của Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên tại Lễ kỷ niệm 50 năm xây dựng và phát triển Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng TPHCM, diễn ra vào sáng 16/9. Cùng dự có ông Nguyễn Mạnh Cường, Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch UBND TPHCM.
Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng TPHCM được hình thành từ khói lửa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khởi đầu là Tổ Sốt rét thuộc Phòng vi trùng C34, sau là Phòng Sốt rét miền Nam C30, trực thuộc Ban Y tế B2, với nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe cho bộ đội và nhân dân vùng giải phóng.
Sau ngày đất nước thống nhất, ngày 18/1/1977, Bộ Y tế đã quyết định thành lập Phân viện Sốt rét - Kí sinh trùng - Côn trùng Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 18/6/2003, Phân viện được nâng cấp thành Viện như ngày hôm nay, được giao trọng trách cùng ngành Y tế 20 tỉnh, thành phố Nam Bộ, Lâm Đồng thực hiện công tác phòng, chống sốt rét, kí sinh trùng và các bệnh do côn trùng truyền.
Ông Nguyễn Ngọc Thanh, nguyên Trưởng Khoa Côn trùng, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng TPHCM nhớ lại: “Khi đó, sốt rét còn là một nỗi ám ảnh ở khắp khu vực Nam bộ, Lâm Đồng, Tây Nguyên. Tỷ lệ mắc và chết vì sốt rét ác tính còn rất cao. Nhiệm vụ của cán bộ y tế lúc đó không chỉ là nghiên cứu mà là lăn lộn cùng các đội phòng chống sốt rét. Không quản ngại gian khổ lội rừng băng suối đến từng thôn sóc, từng bản làng vùng sâu vùng xa để điều tra, lấy lam máu, hướng dẫn bà con ngủ màn, phun thuốc diệt muỗi, tẩm mùng, nhiều đồng chí mắc sốt rét ngay trên đường công tác, nhiều đồng chí nữ đã phải gửi con lại cho gia đình hàng tháng trời để đi chống dịch.”
Hình ảnh người cán bộ của Viện bền bỉ bám cơ sở, bám dân, lặn lội từng ấp, từng phum sóc, đã trở nên thân quen. Chính từ sự bền bỉ ấy, bệnh sốt rét đã được đẩy lùi rõ rệt cả về số mắc và số tử vong. TS. Giang Hán Minh, Viện trưởng Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng TPHCM, nhấn mạnh: “Quán triệt tinh thần Nghị quyết 72 của Bộ Chính trị, Viện xác định tầm nhìn đến năm 2045, phấn đấu trở thành viện chuyên sâu hàng đầu trong nước và khu vực về ký sinh trùng - côn trùng, là trung tâm đào tạo và nghiên cứu của Nam Bộ và khu vực, có hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc tế, có cơ sở khám chữa bệnh chuyên khoa tin cậy của nhân dân. Nâng cao năng lực chỉ đạo tuyến và sẵn sàng ứng phó trong các tình huống dịch bệnh khẩn cấp.”
Phát biểu tại buổi lễ, Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên lưu ý, bối cảnh y tế hiện nay đang thay đổi rất nhanh. Biến đổi khí hậu làm thay đổi sự phân bố của véc tơ truyền bệnh. Đô thị hóa, giao lưu quốc tế, biến động dân cư làm gia tăng nguy cơ xuất hiện và lan truyền dịch bệnh. Kháng thuốc, bệnh truyền từ động vật sang người và những tác nhân gây bệnh mới tiếp tục đặt ra những thách thức đối với hệ thống y tế. Vì vậy, khi số ca bệnh giảm xuống không có nghĩa là nhiệm vụ của Viện giảm đi. Ngược lại, thành quả càng lớn thì trách nhiệm duy trì thành quả càng cao. Tiến tới loại trừ sốt rét phải đồng thời với việc xây dựng đủ năng lực để không để bệnh quay trở lại. Y tế dự phòng hiện đại phải có khả năng giám sát, dự báo và hành động sớm, trước khi một nguy cơ trở thành dịch bệnh.
“Viện cần tiếp tục phát huy thế mạnh về dịch tễ học sốt rét, ký sinh trùng học, côn trùng y học, giám sát véc tơ, giám sát kháng thuốc, xét nghiệm và nghiên cứu khoa học. Vai trò của một viện chuyên ngành Trung ương phải được thể hiện ở khả năng phát hiện những vấn đề mới, giải quyết những vấn đề chuyên môn khó, hỗ trợ kỹ thuật cho địa phương và cung cấp bằng chứng khoa học phục vụ xây dựng chính sách và ra quyết định. Đặc biệt, Viện cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các địa phương để thực hiện mục tiêu loại trừ sốt rét vào năm 2030”, Thứ trưởng Đỗ Xuân Tuyên nhấn mạnh.
Thứ trưởng Bộ Y tế cũng đề nghị Viện đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ và chuyên gia đầu ngành. Máy móc có thể đầu tư, công nghệ có thể chuyển giao, nhưng một chuyên gia giỏi cần nhiều năm để đào tạo và trưởng thành. Vì vậy, Viện cần quan tâm phát hiện, đào tạo cán bộ trẻ; xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh; tăng cường hợp tác với các viện, trường trong nước và quốc tế; đồng thời coi trọng việc truyền nghề và kế tiếp giữa các thế hệ.

