Lúa gạo: Nhích giá nhẹ, giao dịch ảm đạm
Thị trường lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận sắc xanh trở lại với lúa tươi Đài Thơm 8 (tăng 100 đồng, lên 6.300 - 6.500 đồng/kg) và OM 18 (tăng 200 đồng, lên 6.400 - 6.600 đồng/kg). Ngược lại, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu biến động nghẽn dòng; IR 504 giảm nhẹ 50 đồng/kg, trong khi CL 555 tăng tương ứng. Dù lực mua tại các địa phương trọng điểm như An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp còn khá yếu, mức giá nội địa vẫn giữ đà đi lên.
Trên thị trường thế giới, giá gạo thơm 100% tấm xuất khẩu của Việt Nam dao động từ 371 - 375 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán ở mức 515 - 519 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 440 - 445 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm dao động ở mức 382 - 386 USD/tấn, còn gạo 100% tấm dao động 326 - 330 USD/tấn.
Cà phê: Bật tăng mạnh, chạm mốc 93.000 đồng/kg
Sau nhịp lao dốc, giá cà phê nhân xô tại Tây Nguyên bất ngờ quay đầu "ngược dòng" đầy ấn tượng khi đồng loạt tăng 1.000 đồng/kg. Đắk Nông tiếp tục vươn lên dẫn dắt thị trường với mức thu mua chạm mốc 93.000 đồng/kg; các khu vực Đắk Lắk, Gia Lai và Lâm Đồng dao động từ 92.100 - 92.800 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá cà phê Robusta và Arabica đồng loạt phục hồi. Cụ thể, trên sàn London, giá cà phê Robusta giao tháng 11/2026 tăng 41 USD/tấn, tương đương 1,16%, lên mức 3.414 USD/tấn. Trên sàn New York, giá cà phê Arabica giao tháng 12/2026 tăng mạnh 10,8 US cent/pound, tương đương 3,66%, lên mức 305,6 US cent/pound.
Hồ tiêu: Đồng loạt giảm, đứt gãy mốc đỉnh
Trái ngược với đà hân hoan của cà phê, thị trường hồ tiêu rơi vào trạng thái thoái lùi khi đồng loạt "bốc hơi" 500 đồng/kg tại tất cả các vùng trồng trọng điểm. Mặt bằng thu mua toàn quốc chính thức mất mốc 140.500 đồng/kg, lùi về khoảng 137.500 - 140.000 đồng/kg. Đắk Nông tuy neo giữ mức cao nhất nhưng cũng chỉ còn 140.000 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá tiêu đen Indonesia giảm 58 USD/tấn, tương đương 0,85%, xuống còn 6.769 USD/tấn. Giá tiêu đen Malaysia tiếp tục duy trì mức 9.100 USD/tấn. Giá tiêu đen ASTA 570 của Brazil ổn định ở mức 5.800 USD/tấn.
Cao su: Thế giới phân hóa, trong nước giữ nhịp
Tại thị trường nội địa, các doanh nghiệp lớn như MangYang, Phú Riềng, Bà Rịa và Bình Long chủ động giữ vai trò "điểm tựa", tiếp tục duy trì bảng giá thu mua ổn định để bình ổn tâm lý nhà vườn.
Cụ thể, tại Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2 - loại 1). Công ty Phú Riềng, báo giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC. Công ty Cao su Bà Rịa báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30), mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.
Thị trường cao su quốc tế, tại Thái Lan, giá chào xuất khẩu cao su RSS3 tăng 0,08 Baht (0,08%) lên mức 96,73 Baht/kg. Trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE) - Trung Quốc, giá cao su tự nhiên hợp đồng giao tháng 11 ở mức 19.220 Nhân dân tệ/tấn, giảm 0,10%.
























