Theo thống kê của Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam, trong tháng 10/2026, Việt Nam xuất khẩu 21.973 tấn Hồ tiêu, kim ngạch đạt 143,7 triệu USD, giảm 14,1% về lượng và 12,9% về giá trị so với tháng 9/2026, tương ứng giảm 3.607 tấn; tuy nhiên, so với tháng 10/2025, lượng xuất khẩu tăng 13,1%, tương ứng tăng 2.543 tấn.
Trong tháng 10, Châu Á tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất, đạt 10.695 tấn, chiếm 48,7% tổng lượng xuất khẩu, giảm 21,3% so với tháng trước nhưng tăng 16,1% so với cùng kỳ. Trong đó, Trung Quốc đạt 3.424 tấn, giảm 22,3% so với tháng 9/2026 nhưng tăng mạnh 182% so với tháng 10/2025, chiếm 15,6% tổng xuất khẩu.
Hoa Kỳ vẫn là thị trường đơn lẻ lớn nhất của Hồ tiêu Việt Nam với 5.658 tấn, chiếm 25,7%; giảm 9,8% so với tháng 9/2026 nhưng tăng 32,1% so với tháng 10/2025. Hoa Kỳ và Trung Quốc cộng lại chiếm 41,3% tổng lượng xuất khẩu, tiếp tục giữ vai trò quan trọng đối với đầu ra của ngành hàng.
Lũy kế 10 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 237.706 tấn Hồ tiêu, kim ngạch đạt 1 tỷ 537,3 triệu USD, tăng 15,2% về lượng và 10,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025, tương ứng tăng 31.279 tấn. So với cùng kỳ năm 2024, lượng xuất khẩu tăng 8,3%.
Châu Á tiếp tục là khu vực tiêu thụ lớn nhất. Trung Quốc là động lực tăng trưởng chính tại khu vực, đạt 28.328 tấn, tăng 71%, chiếm 11,9% tổng xuất khẩu. Thái Lan cũng tăng mạnh 52,5%, đạt 9.385 tấn. Châu Mỹ ghi nhận mức tăng cao nhất trong các khu vực, đạt 62.743 tấn, tăng 28,2% và chiếm 26,4% tổng xuất khẩu.
Hoa Kỳ duy trì vị trí thị trường đơn lẻ lớn nhất với 56.279 tấn, tăng 27,1%, chiếm 23,7%.
Về nhập khẩu, theo Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam, trong tháng 10/2026, Việt Nam nhập khẩu 1.425 tấn Hồ tiêu, kim ngạch đạt 8,6 triệu USD, giảm 13,7% về lượng và 13% về giá trị so với tháng 9/2026, tương ứng giảm 227 tấn; đồng thời giảm 14,7% về lượng so với tháng 10/2025, tương ứng giảm 246 tấn.
Tính đến hết tháng 10 năm 2026, Việt Nam nhập khẩu 50.079 tấn Hồ tiêu, kim ngạch đạt 289 triệu USD, tăng 32,5% về lượng và 22% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025, tương ứng tăng 12.296 tấn.
Campuchia tiếp tục là nguồn cung lớn nhất, tỷ trọng của Campuchia tăng từ 25,7% lên 56,6%, cho thấy sự dịch chuyển rõ rệt trong cơ cấu nguồn cung. Mức tăng từ thị trường này vượt mức tăng nhập khẩu chung của cả nước, qua đó bù đắp sự sụt giảm từ Brazil và Indonesia.























