Vấn đề hôm nay: Văn học thời hội nhập - Lối ra còn hạn hẹp

(VOH) - Văn học Việt Nam thời hội nhập đã có những nét chuyển biến khá tích cực. Nhà văn đã phản ánh qua tác phẩm của mình thực tế đầy sinh động giai đoạn chuyển mình của đất nước bằng những lối viết đầy tính sáng tạo và nhân văn.

Vấn đề hôm nay: Văn học thời hội nhập - Lối ra còn hạn hẹp

 

(VOH) - Văn học Việt Nam thời hội nhập đã có những nét chuyển biến khá tích cực. Nhà văn đã phản ánh qua tác phẩm của mình thực tế đầy sinh động giai đoạn chuyển mình của đất nước bằng những lối viết đầy tính sáng tạo và nhân văn.

 

 

“Cuộc đời dài lắm” của nàh văn Chu Lai

Các nhà văn có tuổi đã từng đi qua 2 cuộc chiến thì nhìn đất nước qua một lăng kính của những người dày dạn kinh nghiệm trong cuộc kháng chiến giành và giữ đất nước. Với “Cao điểm cuối cùng” của nhà văn quân đội Hữu Mai đến “Mùa chim én bay” của Nguyễn Trí Huân hay “Cuộc đời dài lắm” của Chu Lai đã vắt ngang qua hai cuộc chiến đến thời hòa bình, xây dựng đất nước đã tạo nên ấn tượng tốt trong lòng bạn đọc, giúp cho thế hệ sau càng hiểu và yêu hơn lịch sử đất nước.

 

Hiện nay trong khi nền kinh tế của nước ta đã từng bước hội nhập và bước đầu đã có nhiều tín hiệu tốt thì văn học của chúng ta vẫn còn mang tính cục bộ. Những tác phẩm văn học của nước ta chỉ được phổ biến... trong nước. Chúng ta chưa giới thiệu được với thế giới về nền văn học nước mình. Có chăng độc giả trên thế giới mới chỉ biết đến “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh hay vài truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Còn nhiều, nhiều lắm những tác phẩm văn học Việt Nam đặc sắc, viết về người Việt Nam, những con người dũng cảm trong chiến đấu, cực kì sắc xảo, nhạy bén trong làm kinh tế và khéo léo trong ứng xử nhưng cứng rắn, kiên quyết với kẻ thù.

 

Những năm gần đây, văn đàn chào đón những tác phẩm mới của các nhà văn trẻ với lối viết nhiều sáng tạo. Đây là tín hiệu đáng mừng cho nền văn học nước ta. Bên cạnh những cây bút lão thành, đã xuất hiện thêm những cây bút trẻ với những tác phẩm mang nét cá tính của từng nhà văn. Nguyễn Ngọc Tư đã tạo tiếng vang với “Cánh đồng bất tận” gây nhiều tranh cãi, mà có lẽ nếu như không có sự góp sức của báo chí truyền thông, tác phẩm này cũng sẽ bị chìm vào dòng văn học đang cuốn chảy. Nhưng dù sao, bạn đọc trong nước cũng đã biết đến một nhà văn ở đất mũi Cà Mau viết về người Nam bộ. Và cũng với “Cánh đồng bất tận”, Nguyễn Ngọc Tư cũng đã được bạn bè trong khu vực biết tới khi chị được nhận giải thưởng Asean năm 2008. Nhưng, những tác phẩm văn học được giới thiệu đến bạn bè trên thế giới cũng chỉ mới dừng lại ở đó. Mỗi năm chỉ vài ba tác phẩm được đưa sang Thái Lan nhận giải thưởng Asean - đây là giải thưởng không có hội đồng tuyển chọn mà do Hội nhà văn mỗi nước lựa chọn và giới thiệu. Vẫn còn hạn hẹp lắm con đường đi của văn học Việt Nam đến bạn bè trên thế giới.

 

Hiện nay, một số tổ chức phi chính phủ đã chủ động tổ chức, mời các nhà văn của nước ta sang tham dự và giới thiệu tác phẩm đến với độc giả nước họ. Đó là dịp mà nhà văn nước ta tiếp cận với nền văn học nước bạn và cũng là dịp mà các nhà văn trình làng đứa con tinh thần của mình. Nếu chúng ta loại trừ những mục đích của các chuyến đi này, thì một trong số ít những nhà văn được mời đi đã mang gì đến cho người đọc nước ngoài? Họ có đủ tư cách là nhà văn Việt Nam yêu nước chân chính, họ sẽ giới thiệu gì về nền văn học nước ta với bạn bè thế giới? Họ có giới thiệu được tinh hoa của đất nước, thuần phong mỹ tục của nước ta hay chỉ mang đến cho người đọc sự trúc trắc khó hiểu, đôi khi là mang tính luận đề mà họ cho là nét đổi mới, cách tân trong tác phẩm? Chưa có tổ chức nào đứng ra chịu trách nhiệm thẩm định nội dung này. Với một tác phẩm nghệ thuật, dù có cách tân, có đổi mới thế nào thì linh hồn của nó cũng phải phản ánh được một cách chân thực sự phát triển của xã hội. Không thể gọi một tác phẩm nghệ thuật hay nếu như chỉ đổi mới phần nghệ thuật mà nội dung thì sáo rỗng, đáp ứng những thị hiếu tầm thường. Và hơn hết, là nhà văn sinh ra từ mảnh đất quê hương và lớn yên bằng dòng sữa mẹ Việt Nam thì chính họ phải hiểu đất nước, dân tộc đang cần gì ở họ, chứ không phải là cần sự nổi loạn của bản thân mà họ gọi là đổi mới?

 

Và trong thời kì hội nhập hiện nay, để văn chương cũng hội nhập được một cách toàn diện với thế giới, Hội nhà văn nước ta đã làm gì để văn học Việt Nam tới gần với người đọc các nước? Đó là câu hỏi mà cần sự giải đáp từ những người có trách nhiệm với nền văn học nghệ thuật nước nhà. Làm sao để cho văn học nước ta không bị ngộ nhận với bạn bè thế giới? Một câu hỏi đang cần được giải đáp từ chính những cơ quan quản lý nhà nước về vấn đề này.

 

Ngọc Bích