Hiệu trưởng các trường y bàn chuẩn hóa đào tạo y khoa theo chuẩn quốc tế

Tọa đàm về đào tạo y khoa do Trường ĐH Y dược (ĐHQG Hà Nội) tổ chức quy tụ hiệu trưởng nhiều trường y lớn, thống nhất cần đổi mới mô hình đào tạo để hội nhập quốc tế.

Sát Tết Nguyên đán, tọa đàm “Đào tạo y khoa ở Việt Nam – kinh nghiệm quốc tế và giải pháp hội nhập” do Trường Đại học Y dược (Đại học Quốc gia Hà Nội) tổ chức chiều 4/2 vẫn thu hút sự tham dự của hiệu trưởng nhiều trường đại học y hàng đầu cả nước.

Hiệu trưởng các trường y bàn chuẩn hóa đào tạo y khoa theo chuẩn quốc tế - Hình 1

GS.TS Lê Ngọc Thành phát biểu tại tọa đàm - Ảnh: Ngọc Linh/TT

Phát biểu tại tọa đàm, GS.TS Lê Ngọc Thành, Hiệu trưởng Trường Đại học Y dược (ĐHQG Hà Nội), cho rằng đào tạo y khoa ở Việt Nam hiện còn nhiều bất cập, thiếu thống nhất và “không giống ai”.

Điều này khiến bằng bác sĩ của Việt Nam chưa được nhiều quốc gia công nhận, cản trở quá trình hội nhập quốc tế.

Theo GS Thành, qua khảo sát, mô hình đào tạo của Nhật Bản và Pháp được đánh giá là phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Trong đó, nếu áp dụng theo mô hình của Pháp, bác sĩ sẽ được đào tạo theo lộ trình 6+3+2, gồm 6 năm bác sĩ đa khoa, 3 năm chuyên khoa và 2 năm chuyên khoa sâu.

Chỉ ra những hạn chế hiện nay, GS Lê Ngọc Thành cho biết ngay cả hệ đào tạo được coi là tinh hoa như bác sĩ nội trú cũng đang gặp nhiều vấn đề.

Bác sĩ nội trú tập trung quá đông tại một số bệnh viện tuyến trung ương như Việt Đức, Bạch Mai, Phụ sản Trung ương…, gây quá tải trong đào tạo và thực hành.

“Nhiều bác sĩ nội trú vừa phải tham gia khám, chữa bệnh, vừa đóng học phí mà không được trả lương, trong khi ở nhiều nước, họ được coi là bác sĩ tập sự và được trả lương.

Cách làm này là ngược đời”, GS Thành nhận định, đồng thời đề xuất phân bổ bác sĩ nội trú đến nhiều bệnh viện khác nhau để giảm quá tải và nâng cao chất lượng đào tạo.

Nhiều vướng mắc cần tháo gỡ

GS.TS Nguyễn Hữu Tú, Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội, cho rằng những vấn đề được nêu tại tọa đàm là rất khó giải quyết, nhưng sự có mặt đông đủ của lãnh đạo các trường y lớn như Trường Đại học Y dược TP.HCM, Đại học Y dược Huế, Đại học Y dược Cần Thơ, Học viện Quân y… cho thấy sự đồng thuận cao trong việc đổi mới.

Theo GS Tú, mô hình đào tạo hiện nay của Việt Nam gồm 6 năm bác sĩ đa khoa, sau đó hoặc thi nội trú 3 năm, hoặc đi làm rồi quay lại học chuyên khoa, thạc sĩ, tiến sĩ, thậm chí có mô hình “chuyên khoa định hướng” chỉ 6–12 tháng.

Đây là mô hình không phổ biến ở các nước phát triển và chỉ phù hợp khi thiếu bác sĩ, nay không còn phù hợp.

Ông cho biết nhiều quốc gia như Pháp, Thụy Sĩ và một số nước Đông Nam Á đang áp dụng mô hình đào tạo liền mạch 6 năm đầu (chia 3+3), sau đó là 3 năm chuyên khoa và 2 năm chuyên khoa sâu, kết hợp học với làm, thực hành tại bệnh viện và được trả lương.

Để khắc phục tình trạng “mỗi nơi đào tạo một kiểu”, GS Tú đề xuất Việt Nam cần thống nhất mô hình đào tạo 6+3+X, trong đó X là thời gian đào tạo chuyên khoa sâu, đồng thời có chính sách trả lương cho bác sĩ nội trú, hạn chế tình trạng đào tạo phân mảnh.

Vấn đề cấp thiết cần thay đổi

Ông Nguyễn Văn Quân, Phó Cục trưởng Cục Khoa học, công nghệ và đào tạo (Bộ Y tế), cho biết Luật Giáo dục đại học 2025 đã có quy định và trước ngày 30/7 sẽ ban hành hướng dẫn bổ sung hai loại văn bằng là bác sĩ nội trú và bác sĩ chuyên khoa vào hệ thống văn bằng quốc gia.

Bộ Y tế cũng đã xây dựng chuẩn năng lực bác sĩ chuyên khoa làm cơ sở đánh giá năng lực hành nghề.

Theo ông Quân, những vấn đề về thời gian, hình thức đào tạo, giáo trình, phương pháp thi cử tuy không mới nhưng đang rất nóng bỏng và cần sớm thay đổi.

Các hiệu trưởng thống nhất đề xuất sử dụng kết quả kỳ thi quốc gia đánh giá năng lực bác sĩ để phân bổ (matching) bác sĩ nội trú, thay vì tổ chức nhiều kỳ thi riêng lẻ.

Đồng thời, hình thức thi cử cần đổi mới theo hướng kết hợp cả lý thuyết và thực hành, tiệm cận chuẩn quốc tế.

Bình luận