Tại Đồng bằng sông Cửu Long, bài toán phát triển ngành lúa gạo không còn chỉ nằm ở sản lượng. Người trồng lúa phải thích ứng với biến đổi khí hậu, kiểm soát chi phí và đáp ứng yêu cầu chất lượng của thị trường. Vì vậy, chuyển đổi phương thức canh tác đang trở thành một hướng đi quan trọng để nâng giá trị hạt gạo Việt.
Gần 421.000 ha canh tác bền vững
Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp đang thúc đẩy thay đổi tập quán sản xuất tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Cụ thể, thay vì gieo sạ với lượng giống lớn và tập trung tối đa vào sản lượng, nông dân được hướng dẫn giảm lượng giống, sử dụng phân bón hợp lý, quản lý nước tưới và xử lý rơm rạ sau thu hoạch.
Đồng thời, những biện pháp như không đốt rơm rạ, tưới tiết kiệm và giảm lượng phân bón được áp dụng nhằm hạn chế phát thải khí nhà kính, tiết giảm chi phí sản xuất.
Theo ông Lê Quốc Thanh - Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, cán bộ kỹ thuật có vai trò hướng dẫn nông dân thực hiện các biện pháp giảm phát thải. Người trồng lúa cần tập trung áp dụng đúng quy trình để đạt năng suất và hiệu quả kinh tế tốt hơn.
Tuy nhiên, thay đổi kỹ thuật trên đồng ruộng chỉ là một phần của quá trình chuyển đổi. Hiệu quả lâu dài phụ thuộc vào khả năng tổ chức sản xuất và sự phối hợp giữa các bên trong chuỗi lúa gạo.
Giảm chi phí sản xuất, cải thiện lợi nhuận trên mỗi diện tích lúa
Hiệu quả kinh tế là yếu tố quan trọng để nông dân tiếp tục tham gia sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Các mô hình triển khai ghi nhận mức tăng lợi nhuận từ 1,5 đến 9,3 triệu đồng mỗi ha của mỗi vụ.
Đáng chú ý, năng suất tại các mô hình này tăng từ 5% đến 12%, cho thấy việc thay đổi quy trình canh tác có thể đồng thời cải thiện hiệu quả sản xuất và thu nhập.

Dù vậy, hiệu quả kinh tế không chỉ đến từ giá bán. Việc giảm giống, phân bón và sử dụng nước hợp lý cũng góp phần tiết giảm chi phí đầu vào, giúp nông dân cải thiện lợi nhuận trên cùng diện tích canh tác.
Theo ông Ngô Xuân Chinh, liên kết theo chuỗi là điều kiện quan trọng để hiệu quả sản xuất được chuyển thành giá trị thương mại. Do đó, sự tham gia của doanh nghiệp thu mua, hợp tác xã và nông dân cần được duy trì xuyên suốt quá trình sản xuất, thay vì chỉ tập trung vào khâu tiêu thụ cuối cùng.
Liên kết chuỗi cũng tạo điều kiện để những thay đổi trong kỹ thuật canh tác gắn với yêu cầu chất lượng và nhu cầu thực tế của thị trường.
Chuyển đổi sang sản xuất giảm phát thải không chỉ hướng đến hiệu quả kinh tế trước mắt mà còn đặt nền tảng cho việc phát triển thương hiệu gạo Việt Nam.
Tiến sĩ Vinod Ahuja - Đại diện Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) tại Việt Nam, đánh giá tích cực về cách thức tổ chức chương trình. “Đây là chương trình có tính đổi mới cao trong khu vực, từ phương thức sản xuất, tổ chức triển khai đến cơ chế khuyến khích nông dân tham gia”, ông nói. Theo ông, nếu được triển khai thành công, chương trình có thể trở thành mô hình tham khảo cho các quốc gia khác trong phát triển sản xuất lúa gạo bền vững.
Bên cạnh đó, bà Nguyễn Thị Thu Hương - Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cho biết đã có những lô hàng mang thương hiệu xanh, phát thải thấp được xuất khẩu. Tuy nhiên, việc mở rộng sự đón nhận của thị trường quốc tế cần có lộ trình.
Đồng thời, cơ quan quản lý định hướng tiếp tục củng cố, quảng bá thương hiệu gạo Việt xanh phát thải thấp và hướng đến xây dựng nhãn phát thải thấp cho các nông sản khác, qua đó nhấn mạnh tính minh bạch của sản phẩm.
Mặc dù những kết quả bước đầu cho thấy tiềm năng của mô hình, việc mở rộng diện tích phải đi kèm với năng lực tổ chức sản xuất và khả năng tiêu thụ.
Vì vậy, các địa phương cần ưu tiên nâng chất lượng những vùng đã tham gia Đề án, thay vì mở rộng diện tích khi chưa bảo đảm điều kiện về thủy lợi, tổ chức sản xuất và thị trường.
Về lâu dài, giá trị của hạt gạo Việt sẽ phụ thuộc không chỉ vào sản lượng hay mức tăng năng suất, mà còn ở khả năng duy trì quy trình canh tác bền vững, chất lượng sản phẩm và liên kết tiêu thụ ổn định.
(HOÀNG YẾN, THANH TÂN, VŨ TUYÊN)

























