Ngành điều tự tin hoàn thành mục tiêu xuất khẩu năm 2026

00:00
00:00
00:00
Trước những biến động của thị trường toàn cầu, ngành điều được định hướng đẩy mạnh chế biến sâu, tăng cường liên kết chuỗi giá trị và chuyển đổi theo hướng xanh, bền vững.

Xuất khẩu điều Việt Nam năm 2026 dự kiến đạt khoảng 5,5 tỷ USD, tương đương năm trước. Để nâng cao sức cạnh tranh, ngành điều cần đẩy mạnh chế biến sâu, thích ứng thị hiếu tiêu dùng quốc tế và có chính sách hỗ trợ phù hợp để doanh nghiệp phát triển bền vững.

Phóng viên Trung tâm tin tức (HTV) trao đổi với ông Phạm Văn Công, Chủ tịch Hiệp hội Điều Việt Nam, về định hướng phát triển ngành điều trong thời gian tới.

Ông Phạm Văn Công, Chủ tịch Hiệp hội Điều Việt Nam - Ảnh: Phước Tiến.

*Chỉ còn khoảng hai tháng nữa là kết thúc năm 2026, ông đánh giá như thế nào về tình hình xuất khẩu điều Việt Nam đến thời điểm này? Những khó khăn lớn nhất của ngành hiện nay là gì và cần giải pháp nào để vượt qua?

- Ông Phạm Văn Công: Đến thời điểm này, kim ngạch xuất khẩu điều Việt Nam đã đạt gần 4 tỷ USD. Dự kiến đến cuối năm 2026, ngành điều có thể đạt khoảng 5,5 tỷ USD, tương đương năm 2025 và hoàn thành kế hoạch đề ra.

Khó khăn lớn nhất là ngành điều phụ thuộc nhiều vào thị trường quốc tế. Khi thị trường thế giới biến động, hoạt động sản xuất, chế biến và xuất khẩu cũng chịu ảnh hưởng. Ngược lại, nếu thị trường ổn định, ngành điều sẽ có điều kiện phát triển thuận lợi hơn.

Mong muốn của chúng tôi là tạo sự hài hòa lợi ích giữa người nông dân, đơn vị thương mại, doanh nghiệp sản xuất, chế biến, hệ thống phân phối và người tiêu dùng. Để làm được điều đó, các hiệp hội điều trên thế giới cần tăng cường chia sẻ thông tin, cùng phối hợp và đồng hành vì lợi ích chung của toàn ngành, thay vì giữ thông tin cho riêng từng cá nhân hay doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, ngành điều cần quan tâm hơn đến thị hiếu tiêu dùng tại từng thị trường. Chẳng hạn, sản phẩm điều chế biến ăn liền của Việt Nam từng được giới thiệu tại Mỹ và nhận được đánh giá tích cực về chất lượng, nhưng hương vị chưa thực sự phù hợp với khẩu vị người tiêu dùng nước này. Điều đó cho thấy, ngoài bảo đảm chất lượng và an toàn thực phẩm, doanh nghiệp cần tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh sản phẩm theo nhu cầu thực tế của từng thị trường.

*Trước yêu cầu nâng cao giá trị gia tăng và mở rộng thị trường, Hiệp hội Điều Việt Nam định hướng phát triển chế biến sâu như thế nào, thưa ông?

- Ông Phạm Văn Công: Chế biến sâu là hướng đi quan trọng để nâng cao giá trị hạt điều Việt Nam. Hiện nay, chúng tôi đang thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại, phục vụ chế biến sâu và phát triển các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Theo lộ trình đến năm 2030, chúng tôi đặt mục tiêu nâng tỷ trọng hạt điều chế biến sâu lên khoảng 15%. Đây là định hướng cần thiết để ngành điều không chỉ duy trì xuất khẩu mà còn nâng cao giá trị sản phẩm, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường quốc tế.

Ngoài xuất khẩu, thị trường trong nước cũng còn nhiều tiềm năng. Việt Nam có khoảng 100 triệu dân; nếu sản phẩm điều đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng trong nước, đây sẽ là thị trường quan trọng để doanh nghiệp phát triển ổn định hơn. Theo tôi, cần khai thác tốt cả thị trường trong nước lẫn xuất khẩu, đồng thời đầu tư công nghệ để nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm.

* Ông đánh giá như thế nào về chất lượng hạt điều Việt Nam hiện nay? Để phát triển ngành điều bền vững, nhất là đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, ông có kiến nghị gì?

- Ông Phạm Văn Công: Từ khi gắn bó với ngành điều năm 1985 đến nay, tôi nhận thấy hạt điều Việt Nam có lợi thế về chất lượng, tính ổn định của nguồn nguyên liệu và khả năng chế biến. Hạt điều có đặc trưng về kích thước, độ thơm và vị ngọt, tạo nền tảng thuận lợi để phát triển các sản phẩm chế biến sâu.

Tôi tin rằng nếu phát huy tốt lợi thế này, kết hợp đầu tư công nghệ và phát triển sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường, ngành điều Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội nâng cao giá trị trong thời gian tới.

Tuy nhiên, ngành điều có nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa đã tham gia sản xuất, chế biến, xuất khẩu hàng chục năm qua. Vì vậy, chính sách hỗ trợ cần phù hợp với năng lực thực tế của doanh nghiệp, có lộ trình để các đơn vị từng bước thích ứng với yêu cầu mới.

Nếu các chính sách và tiêu chuẩn mới được triển khai quá nhanh, doanh nghiệp không kịp đáp ứng có thể phải thu hẹp hoặc ngừng hoạt động. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến doanh nghiệp mà còn gây tổn thất nguồn lực và giảm nguồn thu cho đất nước.

Tôi mong các cơ quan chức năng tiếp tục quan tâm, hỗ trợ doanh nghiệp, phát huy kinh nghiệm từ những địa phương có ngành điều phát triển như Bình Phước, đồng thời tạo điều kiện để các doanh nghiệp của các địa bàn liên quan nâng cao năng lực sản xuất, chế biến.

Sự đồng hành giữa cơ quan quản lý, hiệp hội và doanh nghiệp sẽ góp phần giúp ngành điều Việt Nam phát triển ổn định, nâng cao giá trị và giữ vững vị thế trên thị trường quốc tế.

*Cảm ơn ông!