Bộ Nông nghiệp và Môi trường (BNNMT) vừa ban hành Quyết định số 3411/QĐ-BNNMT ngày 24/8/2026 phê duyệt Đề án “Phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung giai đoạn 2026-2030”, nhằm hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, nâng cao hiệu quả sản xuất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đề án tập trung tháo gỡ 3 điểm nghẽn lớn đang ảnh hưởng đến phát triển vùng nguyên liệu, gồm: hạ tầng dùng chung phục vụ sản xuất còn thiếu và chưa đồng bộ; năng lực quản trị, ứng dụng công nghệ số của hợp tác xã (HTX) còn hạn chế; các chuỗi liên kết giữa vùng nguyên liệu với doanh nghiệp chưa thực sự bền vững.
Hướng đến số hóa vùng nguyên liệu
Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành và phát triển các vùng nguyên liệu tập trung đối với những ngành hàng chủ lực trên phạm vi cả nước. Qua đó, phấn đấu giảm tối thiểu 10% chi phí vận chuyển, giảm 10%-15% thời gian thu gom và giảm 8%-10% tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch.
Cùng với đầu tư hạ tầng, đề án chú trọng nâng cao năng lực quản trị và đẩy mạnh chuyển đổi số tại các vùng nguyên liệu. Theo đó, trên 80% HTX tham gia vùng nguyên liệu được bồi dưỡng, nâng cao năng lực quản trị và dữ liệu; trên 70% vùng nguyên liệu được hỗ trợ lập bản đồ số hóa; tối thiểu 60% diện tích áp dụng nhật ký sản xuất điện tử và hệ thống truy xuất nguồn gốc.
Đề án cũng hướng tới việc tăng cường liên kết giữa nông dân, HTX và doanh nghiệp. Khoảng 70% vùng nguyên liệu dự kiến có sự tham gia của HTX và ít nhất một doanh nghiệp liên kết; tối thiểu 60% sản lượng được tiêu thụ thông qua hợp đồng. Qua đó, phấn đấu tăng ít nhất 10% doanh thu của HTX và thu nhập của người dân.
Đầu tư đồng bộ hạ tầng, phát triển chuỗi liên kết
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đề án là đầu tư, nâng cấp hệ thống giao thông kết nối vùng nguyên liệu với các cơ sở thu gom, sơ chế, chế biến, bảo quản, logistics và thị trường.
Đồng thời, đầu tư đồng bộ hạ tầng dùng chung thiết yếu phục vụ sản xuất, tạo điều kiện giảm chi phí và nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đặt yêu cầu nâng cao năng lực tổ chức sản xuất và quản trị số tại các vùng nguyên liệu. Các nhiệm vụ tập trung vào số hóa bản đồ ranh giới; xây dựng dữ liệu vùng trồng, vùng nuôi; cấp và quản lý mã số vùng sản xuất; hướng dẫn HTX ứng dụng nhật ký sản xuất điện tử.
Bên cạnh đó, khoa học - công nghệ, phát triển thị trường và chuyển đổi xanh được xác định là một trụ cột quan trọng. Các vùng nguyên liệu được định hướng phát triển theo hướng sản xuất bền vững, phát thải thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Vùng nguyên liệu phải đạt tối thiểu 70 điểm
Để được đưa vào danh mục xem xét hỗ trợ, các vùng nguyên liệu phải đáp ứng Bộ tiêu chí với tổng điểm tối đa 100 điểm, được quy định tại Phụ lục 1a và Phụ lục 1b của đề án. Vùng nguyên liệu phải đạt từ 70 điểm trở lên và không có nhóm tiêu chí nào thấp hơn mức điểm tối thiểu theo quy định.
Ngoài yêu cầu về điểm số, vùng nguyên liệu phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện bắt buộc. Trong đó, phải có doanh nghiệp cam kết liên kết tiêu thụ bằng văn bản hoặc hợp đồng; có HTX hoặc tổ chức đại diện nông dân làm đầu mối; có mặt bằng sạch và khả năng bố trí nguồn vốn đối ứng. Đồng thời, nội dung hỗ trợ không được trùng lặp với các nguồn ngân sách nhà nước hoặc chương trình hỗ trợ khác.
Huy động hơn 23.600 tỷ đồng
Theo đề án, tổng nhu cầu vốn thực hiện giai đoạn 2026-2030 dự kiến khoảng 23.650 tỷ đồng, được tổng hợp trên cơ sở đề xuất của các địa phương.
Trong đó, ngân sách Trung ương dự kiến hỗ trợ khoảng 1.655 tỷ đồng, chiếm 7% tổng nguồn vốn, đóng vai trò vốn mồi để hỗ trợ đầu tư hạ tầng giao thông kết nối thiết yếu và chuyển đổi số.
Ngân sách địa phương dự kiến bố trí khoảng 6.700 tỷ đồng, chiếm 28,35%. Phần vốn xã hội hóa dự kiến huy động khoảng 15.300 tỷ đồng, chiếm 64,65%, từ doanh nghiệp, HTX, người dân và các nguồn hợp pháp khác.
Nguồn vốn xã hội hóa chủ yếu được sử dụng để đầu tư giống, vật tư, cơ giới hóa, cơ sở sơ chế, chế biến sâu và logistics. Qua đó, đề án kỳ vọng tạo nền tảng để hình thành các vùng nguyên liệu tập trung gắn với doanh nghiệp, nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nông, lâm, thủy sản Việt Nam.

