Tăng gấp đôi mức phạt vi phạm chế độ một vợ, một chồng từ 18/5

Từ 18/5, mức phạt hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng tăng lên 5–10 triệu đồng theo Nghị định 109/2026, thay cho mức 3–5 triệu đồng trước đây.

Nội dung này được quy định tại Nghị định 109/2026 về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự và phá sản.

Tăng gấp đôi mức phạt vi phạm chế độ một vợ, một chồng từ 185 – Hình 1

Mức xử phạt ngoại tình tăng gấp đôi, áp dụng từ 18/ - Ảnh minh họa: TN

Quy định có hiệu lực từ ngày 18/5, thay thế Nghị định 82/2020 và các nội dung sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 117/2024.

Mức phạt đối với hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng đã được nâng lên so với quy định trước đây. Theo Điều 62 của Nghị định 109, các hành vi sau đây sẽ bị phạt tiền từ 5–10 triệu đồng:

a) Người đang có vợ hoặc chồng mà kết hôn với người khác; người chưa có vợ hoặc chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có vợ hoặc chồng.

b) Người đang có vợ hoặc chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác.

c) Người chưa có vợ hoặc chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có vợ hoặc chồng.

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa cha chồng với con dâu; mẹ vợ với con rể; giữa cha dượng với con riêng của vợ; giữa mẹ kế với con riêng của chồng.

đ) Cản trở việc kết hôn; yêu sách của cải khi kết hôn; hoặc cản trở việc ly hôn.

Trong khi đó, theo quy định trước đây, các hành vi nêu trên chỉ bị xử phạt với mức 3–5 triệu đồng.

Mức phạt đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng hơn vẫn được giữ nguyên ở khung 10–20 triệu đồng.

a) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời.

b) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi.

c) Cưỡng ép kết hôn hoặc lừa dối trong kết hôn; cưỡng ép ly hôn hoặc lừa dối trong ly hôn.

d) Lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, xin nhập quốc tịch Việt Nam hoặc quốc tịch nước ngoài; để hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước; hoặc để đạt được mục đích khác không nhằm xây dựng gia đình.

đ) Lợi dụng việc ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ về tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác không nhằm chấm dứt hôn nhân.

"Chung sống như vợ chồng": Hiểu sao cho đúng và đủ dưới góc nhìn pháp lý?

Theo luật sư Vũ Anh Tuấn, khái niệm “chung sống như vợ chồng” là thuật ngữ pháp lý quen thuộc trong Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, nhưng không phải ai cũng nắm rõ bản chất và hệ quả pháp lý của quan hệ này.

Hiểu một cách đơn giản, đây là tình trạng nam và nữ sống chung, đối xử như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Dù không có giấy chứng nhận hợp pháp, mối quan hệ này vẫn có thể được xác định qua nhiều dấu hiệu cụ thể.

Một cặp đôi được coi là “chung sống như vợ chồng” khi có các yếu tố như: sống chung một cách công khai, ổn định trong thời gian dài; có sự gắn bó về tình cảm; có thể có con chung; cùng chia sẻ kinh tế và sinh hoạt như một gia đình thực thụ; và đặc biệt được hàng xóm, cộng đồng xã hội nhận diện là vợ chồng.

Tuy nhiên, về phương diện pháp luật, nếu hai người đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký thì quan hệ này không được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Điều đó có nghĩa là quyền và nghĩa vụ giữa hai bên không được bảo vệ đầy đủ như trong hôn nhân đã đăng ký.

Dẫu vậy, pháp luật vẫn ưu tiên bảo vệ quyền lợi của con cái trong mọi trường hợp. Về tài sản chung, nghĩa vụ tài chính hay các tranh chấp phát sinh, các bên có thể được giải quyết theo quy định của pháp luật dân sự.

Đáng chú ý, nếu một trong hai người đã có vợ hoặc chồng hợp pháp mà vẫn chung sống như vợ chồng với người khác, hành vi này có thể bị xử phạt hành chính, thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng.

Hiểu đúng khái niệm “chung sống như vợ chồng” không chỉ giúp mỗi người tự bảo vệ quyền lợi của mình mà còn tránh được những hệ lụy pháp lý đáng tiếc trong cuộc sống.

Bình luận